[tintuc]

- Trong Đông y, tạng Thận được coi là "Tiên thiên chi bản", tức là cái gốc rễ của sự sống có sẵn từ khi cha mẹ sinh ra. Sức khỏe, tuổi thọ, sinh lý và khả năng chống chọi bệnh tật của con người đều phụ thuộc vào sự thịnh suy của tạng Thận. - Tuy nhiên, khi nghe đến khái niệm "Bổ Thận", rất nhiều người lập tức nghĩ ngay đến các vị thuốc cường dương, tăng cường sinh lực. Đây là một sai lầm tai hại trong lâm sàng. Thận được chia thành ba phần: Thận Âm, Thận Dương và Thận Tinh. Mỗi phần đảm nhiệm một vai trò khác nhau và cần những vị thuốc bồi bổ hoàn toàn riêng biệt. Việc dùng nhầm thuốc không những không có hiệu quả mà còn khiến âm dương trong cơ thể lệch lạc, sinh ra trọng bệnh. - Dưới lăng kính y lý cổ truyền, chúng ta hãy cùng phân biệt rõ ràng 3 nhóm vị thuốc bổ Thận kinh điển và đối tượng phù hợp để sử dụng: 1. Nhóm vị thuốc Bổ Thận Âm (Tư bổ Thận Thủy). - Thận âm được hiểu là phần vật chất, phần nước mát, nguồn huyết dịch để nuôi dưỡng và kiềm chế ngọn lửa trong cơ thể. Khi Thận âm bị thiếu hụt, cơ thể sẽ mất đi sự nhu nhuần, hư hỏa sẽ bùng lên (Âm hư nội nhiệt). + Các vị thuốc kinh điển: - Thục địa: Là "vua" của các vị thuốc bổ âm. Thục địa vị ngọt, tính ấm, quy vào kinh Thận, có khả năng sinh huyết, tư âm, làm đầy bể tinh tủy. - Mạch môn, Thiên môn: Nhuận phế, thanh tâm, tư dưỡng phần âm dịch đang bị khô héo. - Kỷ tử, Hoài sơn: Vừa bổ Thận âm vừa dưỡng Can huyết, tính chất nhu hòa, không gây nê trệ.

+ Đối tượng phù hợp để sử dụng: - Người có thể trạng gầy khô, da dẻ khô ráp, sắc mặt triều hồng (ửng đỏ về chiều). - Người thường xuyên có biểu hiện "nóng trong": Lòng bàn tay, bàn chân nóng rực, môi khô, họng khát, hay bị nhiệt miệng, đại tiện táo bón. - Người bị mất ngủ kinh niên theo kiểu tâm phiền ý loạn, hay ra mồ hôi trộm (đạo hãn) vào ban đêm. - Phụ nữ bước vào giai đoạn tiền mãn kinh, mãn kinh bị bốc hỏa, khô hạn.

Vị thuốc Hoài Sinh Địa (bên trái) và vị Thục Địa, "Quân - Vua" của các vị thuốc bổ thận. 
2. Nhóm vị thuốc Bổ Thận Dương (Ôn bổ Mệnh Môn Hỏa).
- Thận dương hay còn gọi là Mệnh môn hỏa, được ví như ngọn lửa sưởi ấm toàn bộ cơ thể, thúc đẩy công năng khí hóa của các tạng phủ. Khi Thận dương bị suy giảm, ngọn lửa này yếu đi, cơ thể sẽ rơi vào trạng thái hư hàn (lạnh lẽo).
+ Các vị thuốc kinh điển: - Nhục quế & Phụ tử chế: Bộ đôi "đại nhiệt" chuyên cứu vãn nguồn dương khí đang lụi tàn, sưởi ấm bể Thận, dẫn hỏa quy nguyên. - Dâm dương hoắc (sao mỡ dê): Vị cay tính ấm, chuyên bổ Thận dương, cường gân cốt, khu phong trừ thấp. - Ba kích, Nhục thung dung: Ôn thận, tráng dương, nhuận tràng thông tiện, bổ cho phần hạ tiêu mà không quá khô táo. + Đối tượng phù hợp để sử dụng: - Người có thể chất sợ lạnh, sợ gió, quanh năm suốt tháng chân tay lạnh ngắt, đắp bao nhiêu chăn cũng lâu ấm. - Người bị chứng tiểu đêm nhiều lần, nước tiểu trong dài, hoặc ngủ dậy bị đau quặn bụng đi ngoài phân lỏng nát (ngũ canh tả). - Nam giới bị suy giảm chức năng sinh lý: liệt dương, di tinh, xuất tinh sớm do thể chất hư hàn. - Người già đau mỏi ngang thắt lưng, đầu gối lỏng lẻo, vận động đau thốn gót chân do Thận dương không sưởi ấm được cốt tủy. 3. Nhóm vị thuốc Bổ Thận Tinh (Điền tinh bồi tủy). - Thận tinh là phần tinh hoa chắt lọc từ thức ăn và nguồn gen huyết thống, được tàng trữ tại Thận để sinh ra tủy xương, tạo máu và quản lý khả năng sinh sản. Khác với Âm và Dương mang tính chất động, Thận tinh thiên về phần "gốc rễ vật chất" sâu kín nhất của sự sống. + Các vị thuốc kinh điển: - Lộc nhung (Nhung hươu): Vị ngọt mặn, tính ôn, là vị thuốc "huyết nhục hữu tình" có khả năng điền tinh, bổ tủy, sinh huyết đầu bảng. - Thỏ ty tử (Hạt cây tơ hồng): Vị ngọt, tính bình, vừa bổ cả Thận âm lẫn Thận dương, chuyên tâm điền đầy Thận tinh để trị chứng vô sinh. - Sơn thù du: Vị chua, tính ấm, có công năng thu liễm, giữ chặt không cho Thận tinh bị rò rỉ ra ngoài (cố tinh sáp niệu). + Đối tượng phù hợp để sử dụng: - Cặp vợ chồng hiếm muộn, vô sinh, nam giới tinh trùng yếu/loãng, nữ giới trứng kém, tử cung lạnh khó đậu thai. - Trẻ em chậm phát triển, còi xương, chậm mọc răng, thóp lâu liền (do tiên thiên tinh tủy bất túc). - Người sau một trận bạo bệnh hoặc người lao lực quá độ, cơ thể suy kiệt, tóc rụng lả tả, bạc sớm, tai ù đặc không nghe rõ, trí nhớ suy giảm nghiêm trọng. * Quy tắc phối ngũ vàng của Người thầy thuốc. - Cổ nhân có câu dạy vô cùng sâu sắc: "Thiện bổ dương giả, tất ư âm trung cầu dương, tắc dương đắc âm trợ nhi sinh hóa vô cùng; thiện bổ âm giả, tất ư dương trung cầu âm, tắc âm đắc dương trợ nhi tuyền nguyên bất tuyệt". - Nghĩa là, trong cơ thể Âm và Dương không thể tách rời. Một người thầy thuốc Đông y lâu năm khi bốc thuốc sẽ không bao giờ chỉ dùng đơn độc một nhóm. - Khi bổ Thận dương, bắt buộc phải thêm vài vị thuốc bổ Thận âm (như Thục địa) làm nền tảng, thì ngọn lửa sinh ra mới có nhiên liệu để cháy bền vững, không bị bốc hỏa vặt. - Khi tư bổ Thận âm, cũng cần điểm thêm một chút vị thuốc ấm áp của Thận dương để dòng nước được lưu thông, không bị ứ trệ gây đầy bụng, tiêu chảy. Cơ thể mỗi người là một bản đồ âm dương riêng biệt. Trước khi có ý định bồi bổ tạng Thận, bạn cần được các thầy thuốc có chuyên môn thăm khám (Vọng, Văn, Vấn, Thiết) để xác định chính xác mình đang thiếu hụt ở phần nào: Âm, Dương hay Tinh. Dùng đúng thuốc, Thận sẽ là suối nguồn tươi trẻ; dùng sai thuốc, Thận sẽ phải gánh chịu hậu họa khôn lường.

--------

Bác Sĩ Đức Trí - Chuyên bệnh Thận và Nội khoa theo YHCT 

“Giữ gìn và phát triển Đông Y Truyền Thống”

--------


[/tintuc]

Dưỡng Sinh Sức Khỏe

BS Đức Trí
BÁC SĨ ĐỨC TRÍ
Hiệu Quả Tích Lũy Niềm Tin