[tintuc]

(gồm 2 phần: biểu hiện 11 tạng phủ có thấp nhiệt và cách trị 4 nơi thấp nhiệt thường gặp)

Trong bài viết trước, chúng ta đã cùng nhau bóc tách nguyên nhân hình thành của Thấp Nhiệt - sự kết hợp tai hại giữa "Thấp" (sự ẩm ướt, nhớt dính) và "Nhiệt" (sức nóng, viêm nhiễm). Chúng ta cũng đã hiểu vì sao thứ "hỗn hợp" này khi tích tụ lâu ngày, làm bế tắc kinh lạc và oxy hóa tế bào, lại có thể dẫn đến chứng bệnh nan y nặng nề nhất là Ung Thư. Hôm nay, mình muốn chia sẻ một góc nhìn lâm sàng thực tế: Thấp nhiệt ẩn nấp ở đâu, nó sẽ tàn phá và gây bệnh ở đó.

+ Nếu xét theo hệ thống kinh lạc, cơ thể chúng ta có 12 tạng phủ chính. Một điều cực kỳ thú vị là Thấp nhiệt có thể càn quét và cư trú ở 11 tạng phủ, trừ duy nhất một nơi: Tạng Tâm (Tim). Tâm là bậc "Quân chủ", làm chủ về thần minh. Tâm hỏa vốn dĩ cực sùng, Thấp tà (vốn mang tính trọng trọc, trì trệ) rất khó bám trụ trực tiếp tại Tâm cơ. Nếu Thấp nhiệt đánh tiêu điều vào Tâm, y học cổ truyền gọi là chứng Đàm nhiệt mông tế Tâm khiếu (gây điên cuồng, hôn mê), nhưng đó là sự ảnh hưởng lên Thần minh, còn bản thể thấp nhiệt nhớt dính thì tạng Tâm với dòng máu luân chuyển cuồn cuộn rất hiếm khi cho phép nó lắng đọng, cũng chính vì thế Ung Thư Tim chỉ chiếm 0.25% trên tổng số.

+ Ngược lại, 11 tạng phủ còn lại (Phế, Đại trường, Vị, Tỳ, Tiểu trường, Bàng quang, Thận, Tâm bào, Tam tiêu, Đởm, Can) đều là những mảnh đất màu mỡ để Thấp nhiệt bén rễ.

I. BIỂU HIỆN TẠNG PHỦ CÓ THẤP NHIỆT. (1). Tạng Tỳ (Tiêu hóa): - Biểu hiện: Bụng chướng đầy sau ăn, người nặng nề, đại tiện nát dính, miệng nhớt, rêu lưỡi vàng dày. (2). Tạng Can (Gan): - Biểu hiện: Đau tức vùng hạ sườn phải, mắt đỏ gèn, đắng miệng, vàng da (vàng mắt), dễ nổi cáu. (3). Tạng Phế (Phổi): - Biểu hiện: Ho khạc đờm đặc màu vàng/xanh, đờm có mùi hôi, ngực bứt rứt, hơi thở nóng, có thể sốt. (4). Tạng Thận: - Biểu hiện: Đau mỏi thắt lưng kèm cảm giác nóng rát bên trong xương, nước tiểu đỏ đục, chân tay phù nề nhưng sờ vào thấy nóng. (5). Tạng Tâm Bào (Màng tim - Hộ vệ của Tâm): - Biểu hiện: Lồng ngực nóng bức, hồi hộp, tâm thần bồn chồn, mê sảng hoặc nói nhảm khi sốt cao (Đàm nhiệt nhiễu tâm). (6 ). Phủ Vị (Dạ dày): - Biểu hiện: Đau rát vùng thượng vị, ợ chua ra dịch hôi nồng, hơi thở có mùi hôi nặng, nhanh đói nhưng ăn vào lại đầy (vị hỏa thiêu đốt). (7). Phủ Đại Trường (Ruột già): - Biểu hiện: Đau quặn mót rặn, đại tiện ra máu mủ hoặc phân sống dính nhớt, hậu môn nóng rát sau khi đi ngoài. (6 ). Phủ Tiểu Trường (Ruột non): - Biểu hiện: Tiểu buốt, tiểu ra máu, nước tiểu ngắn đỏ, loét đỏ đầu lưỡi (do Tâm di nhiệt sang Tiểu trường hoặc thấp nhiệt hạ chú). (9). Phủ Đởm (Mật): - Biểu hiện: Miệng cực kỳ đắng (nhất là buổi sáng), sợ ăn đồ dầu mỡ, vùng mạng sườn phải đau nhói, có thể nôn ra nước mật vàng. (10). Phủ Bàng Quang (Bọng đái): - Biểu hiện: Tiểu rắt, tiểu buốt, nước tiểu vàng đậm hoặc đục như nước vo gạo, đau tức vùng bụng dưới. (11). Phủ Tam Tiêu (Hệ thống đường thủy đạo toàn thân): - Biểu hiện: Sốt âm ỉ kéo dài không dứt (sốt cao về chiều), lúc nóng lúc rét nhưng ra mồ hôi không hết sốt, cơ thể bế tắc toàn diện.

Vị thuốc Long Đởm Thảo trị thấp nhiệt ở Can Đởm rất tốt.
II. PHÂN TÍCH 4 VÙNG TỔN THƯƠNG VÀ LÂM SÀNG DO "THẤP NHIỆT" THƯỜNG GẶP.

1. Hạ tiêu bế tắc: Viêm nhiễm phụ khoa (Can kinh thấp nhiệt). - Kinh Can (Gan) đi vòng quanh bộ phận sinh dục ngoại vi. Khi tỳ vị kém sinh thấp, kết hợp với can khí uất kết hóa nhiệt, thấp nhiệt sẽ theo kinh Can đổ dồn xuống vùng hạ tiêu của người phụ nữ. - Triệu chứng chi tiết: Khí hư (huyết trắng) ra nhiều, màu vàng đậm hoặc xanh nhạt, kết cấu đặc dính như mủ hoặc bón cục như bã đậu, mùi hôi nồng, tanh. Vùng kín luôn ngứa rát, sưng nề đỏ, tiểu buốt nhẹ sau khi quan hệ. Người bệnh hay bị đắng miệng vào buổi sáng, ngực sườn đầy tức, rêu lưỡi vàng nhớt.

+ Bài thuốc điển hình: Long Đởm Tả Can Thang. - Cơ chế: Dùng Long đởm thảo, Hoàng cầm, Chi tử để đánh tan hỏa uất ở kinh Can; dùng Trạch tả, Mộc thông, Xa tiền tử để thanh nhiệt, dắt dòng thủy thấp bẩn thỉu ra ngoài qua đường tiểu, trả lại sự khô ráo cho vùng hạ tiêu.

2. Trung hạ tiêu ứ trệ: Viêm đại tràng mãn tính (Đại trường thấp nhiệt). - Đại trường (Ruột già) có nhiệm vụ truyền đạo cặn bã. Khi thấp nhiệt cư trú tại đây, nó sẽ làm rối loạn hoàn toàn chức năng hấp thu nước và bài tiết. - Triệu chứng chi tiết: Bệnh nhân thường xuyên đau bụng quặn mót (buồn đi ngoài dữ dội nhưng rặn không ra nhiều), đi đại tiện nhiều lần trong ngày. Phân thường lỏng nát, dính nhớt mủ, hoặc có lẫn máu tươi/máu cá (lỵ tật). Hậu môn có cảm giác nóng rát sau khi đi ngoài. Bụng luôn chướng đầy, rêu lưỡi vàng dày, dính.

+ Bài thuốc điển hình: Thược Dược Thang hoặc Cát Căn Cầm Liên Thang. - Cơ chế: Cát căn để thăng phát thanh dương, tuyên thông trường vị; Hoàng cầm, Hoàng liên là bộ đôi "khổ hàn" cực mạnh, đóng vai trò như kháng sinh tự nhiên giúp dập tắt phản ứng viêm (nhiệt) và làm khô ráo lòng đại tràng (táo thấp); Thược dược, Cam thảo giúp hoãn cấp chỉ thống, làm dịu các cơn co thắt ruột.

3. Viêm đường tiết niệu (Bàng quang thấp nhiệt). - Bàng quang là bể chứa nước tiểu, chịu sự khí hóa của Thận. Thấp nhiệt lắng đọng ở bàng quang sẽ thiêu đốt tân dịch, làm nghẽn đường bài xuất. - Triệu chứng chi tiết: Đi tiểu liên tục (tiểu rắt), vừa đi xong lại muốn đi tiếp nhưng mỗi lần chỉ ra vài giọt. Nước tiểu có màu vàng đậm, đỏ nồng hoặc đục như nước vo gạo, cảm giác buốt rát, đau dọc đường tiểu như kim châm khi đi. Trường hợp nặng có thể tiểu ra máu (huyết lâm) hoặc tiểu ra sỏi cặn (sa lâm).

+ Bài thuốc điển hình: Bát Chính Tán. - Cơ chế: Bài thuốc tập hợp các vị thuốc lợi thủy thông lâm mạnh mẽ nhất như Xa tiền tử, Cù mạch, Biển súc, Hoạt thạch phối hợp cùng Đại hoàng, Chi tử. Thuốc đi vào bàng quang giống như một dòng nước dọn sạch cặn bã, thông dòng thủy đạo, thanh giải triệt để sức nóng và lôi thấp nhiệt ra ngoài.

4. Bề mặt da tổn thương: Viêm da, nấm ngứa (Ma tấu thấp nhiệt). - "Thấp nhiệt nội uất, huân chưng phế vệ". Khi thấp nhiệt ứ kẹt bên trong không thoát ra được bằng đường tiêu hóa hay tiết niệu, nó sẽ mượn đường da thịt (bì mao) để phát tiết. - Triệu chứng chi tiết: Trên da xuất hiện các nốt ban đỏ, mụn nước dày đặc, chứa dịch trong hoặc dịch mủ đục. Khi mụn vỡ gây rỉ dịch vàng, dính nhớt, sau đó đóng vảy tiết dày. Cơn ngứa ngáy diễn ra dữ dội, càng gãi càng loét và lan rộng, ngứa tăng lên khi thời tiết nóng ẩm hoặc sau khi ăn đồ hải sản, bia rượu. Thường gặp trong viêm da cơ địa, chàm (eczema), tổ đỉa hoặc nấm da.

+ Bài thuốc điển hình: Tiêu Phong Tán gia giảm hoặc Tỳ Giải Thẩm Thấp Thang. - Cơ chế: Dùng Tỳ giải, Ý dĩ, Thổ phục linh để thấm thấp, giải độc từ bên trong; phối hợp với các vị khu phong làm mát máu như Sinh địa, Đan bì, Kinh giới để cắt cơn ngứa ngoại vi. Thấp tà tiêu biến thì mụn nước khô ráo, nhiệt tà được thanh thì da hết đỏ rực.

LỜI KẾT: - Nhìn vào bệnh lý của Thấp nhiệt, chúng ta mới thấy y lý Đông y vi diệu ở chỗ: Cùng một bản chất là Thấp Nhiệt, nhưng ngụ ở tạng phủ nào thì mang tên bệnh của tạng phủ đó. - Trị bệnh do thấp nhiệt, phải vô cùng kiên nhẫn. Bởi vì "Thấp" mang tính chất dính dính, dây dưa, cực kỳ khó trục xuất. Nếu chỉ dùng thuốc thanh nhiệt (mát) thông thường, nhiệt có thể giảm tạm thời nhưng thấp lại càng đọng lại; nếu dùng thuốc quá khô ráo (táo thấp), nhiệt lại bùng lên. - Chính vì những sự phức tạp này nên sẽ không có 1 bài thuốc nào có thể dùng chung cho tất cả các loại thấp nhiệt. 

--------

Bác Sĩ Đức Trí - Chuyên bệnh Thận và Nội khoa theo YHCT 

“Giữ gìn và phát triển Đông Y Truyền Thống”

--------

[/tintuc]

Đông Y Truyền Thống

BS Đức Trí
BÁC SĨ ĐỨC TRÍ
Hiệu Quả Tích Lũy Niềm Tin