[tintuc]

Trong bốn phép chẩn bệnh của Đông Y (Vọng - Văn - Vấn - Thiết), Vọng chẩn (nhìn) luôn được xếp hàng đầu. Trong đó, Thiệt chẩn - tức là xem lưỡi, là công cụ trực quan và trung thực nhất giúp người thầy thuốc đánh giá ngay lập tức tình trạng hư thực, hàn nhiệt của tạng phủ bên trong. Tuy nhiên, nếu ai đã từng lật mở các cuốn sách giáo trình hiện đại, đa phần sẽ quen với sơ đồ quy ước: Đầu lưỡi thuộc Tâm - Phế, giữa lưỡi thuộc Tỳ Vị, hai bên rìa thuộc Can Đởm, và gốc lưỡi thuộc Thận. Nhưng nếu mang nguyên công thức đó áp dụng vào thực tế lâm sàng, chúng ta sẽ gặp những điểm mâu thuẫn lớn. Nhiều người thắc mắc: "Tại sao bệnh nhân có vết hằn răng bên rìa lưỡi rất rõ, lưỡi bệu nhão, biểu hiện điển hình của Tỳ khí hư, thấp khí trệ, mà theo sơ đồ thông thường, vị trí đó lại chỉ phản ánh tạng Can Đởm?" Để giải quyết mâu thuẫn này, chúng ta cần lật lại y văn cổ điển, cụ thể là hệ thống lý luận trong cuốn Trung Y Học Khái Luận. Thực tế lâm sàng chẩn trị cho thấy, sơ đồ phân chia bộ vị tạng phủ trên lưỡi có một quy ước chuẩn xác và thực tế hơn rất nhiều. 1. Quy ước bộ vị tạng phủ trên lưỡi theo thực tế lâm sàng. + Dựa trên y văn cổ và kinh nghiệm thực chứng, bản đồ tạng phủ thể hiện trên mặt lưỡi được quy ước cụ thể như sau: - Đầu lưỡi: Thuộc tạng Tâm (Tim), phản ánh thần minh và tâm hỏa. - Hai bên cạnh của đầu lưỡi: Thuộc tạng Phế (Phổi), phản ánh hệ thống hô hấp, vệ khí và sự tuyên phát của Phế. - Chính giữa lưỡi: Thuộc tạng Vị (Dạ dày), nơi tiếp nhận thủy cốc, thể hiện trực tiếp độ dày mỏng và màu sắc của rêu lưỡi. - Hai bên cạnh của giữa lưỡi: Thuộc tạng Can Đởm (Gan và Mật), phản ánh sự sơ tiết khí cơ và tình chí uất kết. - Rìa ngoài cùng của lưỡi: Thuộc tạng Tỳ (Lách/tuỵ), chủ về vận hóa thủy thấp và quản lý cơ nhục toàn thân. - Cuối gốc lưỡi: Thuộc tạng Thận và Bàng quang, nơi tàng trữ nguyên khí, quản lý hệ thống bài tiết và sinh dục. 2. Sự khác biệt cốt lõi và bản chất của "Hằn răng ở rìa lưỡi". - Sự thay đổi lớn nhất trong quy ước này chính là việc tách biệt phần Rìa ngoài cùng (Tỳ) và phần Cạnh giữa lưỡi (Can Đởm). - Hãy nhìn vào triệu chứng phổ biến nhất: Lưỡi có dấu răng (hằn răng ở rìa lưỡi). - Nếu theo cách xem thông thường, rìa lưỡi là Can Đởm, người ta dễ quy kết bệnh nhân bị bệnh lý về Gan hoặc Can uất. Nhưng thực tế thì sao? Hằn răng xuất hiện là do chất lưỡi bị bệu nhão, to bè, khi lưỡi to ra sẽ ép vào hàm răng tạo thành các vết hằn. Trong Đông y, cơ nhục lỏng lẻo, nước ứ trệ không vận hóa được hoàn toàn là do Tỳ khí hư hoặc Thấp khí tích tụ. - Khi chúng ta đưa tạng Tỳ ra vị trí rìa ngoài cùng của lưỡi theo đúng tinh thần của Trung Y Học Khái Luận, mọi việc trở nên vô cùng logic: Rìa ngoài cùng có hằn răng chứng tỏ Tỳ hư không vận hóa được thủy thấp, thấp khí ứ trệ chèn ép ra ngoài bao bọc lấy các bộ vị khác. Cách xem này giúp người thầy thuốc bắt đúng bệnh từ gốc, tránh việc chẩn đoán nhầm sang thể Can Đởm mà dùng sai thuốc phát tán, làm hao tổn thêm chính khí của người bệnh.



3. Hướng dẫn các bước xem lưỡi (Thiệt chẩn) nhanh trên lâm sàng.
+ Khi khám lưỡi cho bệnh nhân, chúng ta cần quan sát hai phần tách biệt: Thiệt chất (chất lưỡi) để xem trạng thái của tạng phủ và Thiệt rêu (rêu lưỡi) để xem tính chất của tạng vị, hàn nhiệt.

a. Quan sát Thiệt chất (Thân lưỡi)
+ Màu sắc:
- Nhợt nhạt: Khí huyết hư hoặc tạng phủ hư hàn (ví dụ Thận dương hư ở gốc lưỡi, Tỳ vị hư hàn ở giữa và rìa lưỡi).
- Đỏ tươi hoặc Đỏ rìa: Có nhiệt. Nếu đầu lưỡi đỏ rực là Tâm hỏa vượng, dễ mất ngủ. Nếu hai bên cạnh đầu lưỡi đỏ là Phế nhiệt, dễ ho khan.
- Tím tối hoặc có điểm ứ huyết: Khí huyết ứ trệ (hay gặp ở cạnh giữa lưỡi, Can khí uất kết).
+ Hình dáng:
- Bệu nhão, có hằn răng ở rìa ngoài: Tỳ hư, thấp trệ.
- Thon nhỏ, khô ráo: Thận âm hư, tân dịch suy kiệt.

b. Quan sát Thiệt rêu (Lớp rêu trên mặt lưỡi).
+ Độ dày mỏng:
- Rêu mỏng hoặc không có rêu (lưỡi bản đồ): Vị khí hoặc Thận âm bị tổn thương nặng.
- Rêu dày ở chính giữa lưỡi: Thực tích ở dạ dày (Vị), ăn uống không tiêu, đàm thấp.
+ Màu sắc rêu:
- Rêu trắng mỏng hoặc trắng nhớt: Biểu hiện của chứng Hàn hoặc Thấp.
- Rêu vàng đặc, dính nhớt: Biểu hiện của Thấp nhiệt (nếu tập trung ở gốc lưỡi là thấp nhiệt hạ tiêu, dễ gây các chứng viêm nhiễm đường tiểu hoặc rối loạn sinh lý).
+ Khi xem rêu lưỡi, có một điểm cốt lõi bác sĩ cần lưu ý là độ bám của rêu để phân biệt giữa "rêu có gốc" và "rêu không gốc".
- Nếu rêu dày nhưng bám chặt vào mặt lưỡi, cạo không sạch, đó là biểu hiện của vị khí còn đủ sức đưa tà khí ra ngoài.
- Ngược lại, nếu rêu lưỡi bợt bạt, lỏng lẻo như một lớp mỡ đọng, cạo nhẹ là bong ra trơ chất lưỡi đỏ hoặc nhợt bên dưới, chứng tỏ Vị khí đã suy kiệt, tạng Tỳ không còn đủ sức vận hóa thủy cốc. Lúc này, dù bệnh nhân chưa có triệu chứng nặng trên lâm sàng, bác sĩ cũng phải lập tức dùng thuốc giữ lấy cái gốc của hậu thiên.

c. Quan sát Mạch lạc mặt dưới lưỡi (Thiệt hạ lạc mạch).
- Trạng thái bình thường: Hai đường mạch lạc này có màu hồng nhạt, thanh mảnh, không ngoằn ngoèo và không nổi cao lên khỏi bề mặt cơ nhục dưới lưỡi.
- Trạng thái Huyết ứ rõ (Trầm trọng): Mạch lạc dưới lưỡi sưng to, nổi gồ lên như những con giun, màu sắc chuyển sang tím sẫm hoặc đen kịt, thậm chí xuất hiện các điểm ứ huyết nhỏ li ti xung quanh.
- Khi thấy mạch lạc dưới lưỡi tím đen, kết hợp với phần cạnh giữa lưỡi (bộ vị Can Đởm) có sắc tối, bác sĩ có thể khẳng định ngay khí huyết đang bị uất trệ trầm trọng. Ở nam giới, điều này thường đi kèm với chứng xuất tinh sớm do huyết ứ chèn ép kinh mạch hạ tiêu; ở nữ giới là chứng đa nang buồng trứng hoặc bào cung hư hàn khiến huyết dịch kinh nguyệt thâm đen có cục. Lúc này, trong bài thuốc bắt buộc phải dùng các vị phá huyết khứ ứ mạnh như Đào nhân, Hồng hoa hoặc Đan sâm thì mới giải quyết được tận gốc vấn đề.

d. Các trạng thái cử động lưỡi bất thường.
- Lưỡi run rẩy: Lưỡi run khi thè ra, thường biểu hiện huyết hư (không nuôi dưỡng được lưỡi) hoặc dương khí suy yếu.
- Lưỡi thè ra thụt vào liên tục giống như rắn, hoặc liếm môi, thường là dấu hiệu của nhiệt ở tâm/tỳ, hoặc dấu hiệu của tình trạng bệnh nặng, âm dương ly tán.
- Lưỡi lệch sang một bên: Dấu hiệu điển hình của chứng trúng phong (tai biến mạch máu não) hoặc bán thân bất toại.

--------

Bác Sĩ Đức Trí - Chuyên bệnh Thận và Nội khoa theo YHCT 

“Giữ gìn và phát triển Đông Y Truyền Thống”

--------

[/tintuc]

Đông Y Truyền Thống

BS Đức Trí
BÁC SĨ ĐỨC TRÍ
Hiệu Quả Tích Lũy Niềm Tin